Nghệ thuật Kiến trúc đình làng Đà Nẵng

04/08/2016 05:45:CH 0 bình luận

 Làng quê Việt Nam, đa số đều có một ngôi đình để thờ thần Thành Hoàng của làng. Thần Thành Hoàng thường là những bậc anh hùng có công dựng nước, giữ nước; hoặc một thần sông, thần núi mang tính huyền thoại như giúp dân trị thuỷ, trừ khử yêu quái, đem lại cuộc sống yên lành cho mọi người, mọi nhà. Đình vừa là nhà, vừa là nơi thờ cúng, vừa là nơi hội họp của dân làng, là ngôi nhà công cộng của mỗi cộng đồng cư dân nông nghiệp làng xã. Mọi tập tục, văn hoá, nếp sống của làng thường được định ra ở đây, có tên gọi là Hương ước, một thứ luật lệ dưới luật, nhưng không kém phần nghiêm ngặt với các thành viên của làng.

         Vì thế,đình làng Đà Nẵng được các cộng đồng dân làng xem xét kỹ lưỡng và tuân thủ theo những nguyên tắc về dịch lý và phong thuỷ. Dân làng tìm những mảnh đất có thế rồng chầu hổ phục, có sông nước, núi đồi làm yếu tố “minh đường, hậu chẩm”, “thuỷ tụ, sơn trièu” để cất đình.

              Đình làng Đà Nẵng thường ở những vị trí không gần lắm khu dân sinh, thậm chí tách biệt với sinh hoạt thường nhật của dân làng, có thế đất cao và thoáng, hướng của đình thường quay về nguồn nước.

 1.     Mặt bằng tổng thể :

       Đình làng thường bao giờ cũng có các thành phần kiến trúc cơ bản gồm cổng ngõ, bình phong và nơi tế tự, sinh hoạt nghi lễ và được bố cục theo nguyên tắc đơn tuyến. Từ ngoaì vào trong các đơn nguyên kiến trúc theo thứ tự là cổng đình, đến tấm bình phong, đi qua một khoảng sân rộng mới vào công trình chính của đình làng. Tất cả đều nằm trên trục dũng đạo tạo thành một chiều sâu không gian càng tăng thêm vẻ uy nghiêm của chốn linh thiêng, đình làng Đà Nẵng có hai kiểu kiến trúc phổ biến, đó là kiểu chữ “Nhất” và kiểu chữ “Đinh”.

        Đình dạng chữ “Nhất” là những ngôi đình chỉ có nếp nhà nằm ngang, công trình này thường được định danh không thống nhất như đại đình, chính điện, đại bái không chỉ giữa các địa phương mà đôi khi ngay cả trong một làng. Còn đình dạng chữ “Đinh” thường được gọi kiểu “chuôi vồ” ( còn gọi là chũ “T”lộn ngược) thì ngòai toà chính điện còn có hậu tẩm nối liền phía sau gian giữa của chính điện. Hậu tẩm có quy mô rất nhỏ, diện tích mặt bằng chỉ từ khoảng 8m2 đến tối đa khoảng 15m2

 2.     Công trình ngoại vi: 

       Cổng ngõ

 Đình làng Đà Nẵng được đặt theo thứ tự từ ngoài vào trong, ngoài cùng là cổng ngõ rồi đến bình phong án ngữ giữa lối đi chính trên trục dũng đạo. Sự xuất hiện của tấm bình phong ở vị trí này thể hiện sự kính ngưỡng tuyệt đối của của người trần đối với thế giới thần linh. Bởi lẽ, bước vào đây người ta buộc phải rẽ sang hai bên mà không thể bước tiếp nếu muốn vào chính điện. Mặt khác, đứng ở ngoài không ai có thể nhìn thấu xuyên suốt vào điện trong đình do sự che khuất của tấm bình phong.

    Dựa vào hình thức phân chia lối đi, có thể xếp cổng đình Đà Nẵng thành hai loại là: Cổng đơn, tức chỉ có một cửa ra vào và cổng tam quan, tức cổng có 3 lối vào đình và nhiều dạng khác nhau tuỳ mỗi địa phương làng, xã.

     Quy mô nhất là loại cổng tam quan được xây theo kiểu thức vòm cuốn. Cổng đình được xây bằng gạch, vữa vôi với diện tích mặt bằng mặt bằng khá lớn. Thân cổng là một khối hộp hình chữ nhật chia thành ba cửa theo lối vòm cuốn, hai của bên đều bằng nhau về chiều rộng lẫn chiều cao và nhỏ hơn cửa chính. Trên mỗi cửa đều tạo cổ lâu, tạo mái và được trang trí rất cầu kỳ. Quanh bốn mặt của các lâu được chia thành các ô hộc và gắn trang trí những cảnh núi sông, muông thú bằng các mảnh sành sứ. Trên nóc cổ lâu gắn trang trí hình rồng khảm sành.

    Những cổng đình còn lại đều lấy những trụ cổng  làm bộ phận kiến trúc cơ bản.Trên các đầu trụ này thường được đặt các hộp đèn lồng một hoặc hai tầng, hoặc hình tượng con sư tử. Một số đình, các trụ được liên kết vơi nhau bằng cách đúc các tấm bê tông và tạo mái cong duyên dáng, đồng thời trên đó gắn trang trí các hình tượng trong tứ linh.

         Bình phong

     Bình phong được xây bằng gạch trát vôi vữa, xi măng. Đa số bình phong ở đình làng Đà Nẵng được xây dựng trong thời gian gần đây, nên có cùng mô típ theo mô thức cuốn thư. Nhìn đại thể, bình phong thường có kiểu cắt góc, tạo nếp gấp kiểu cuốn thư và được áp liền với hai trụ bên như hai ống quyển. Phổ biến là kiểu bình phong như một hình chữ nhật nằm ngang, nhưng cũng có kiểu dựng đứng.

     Các bình phong thường được trang trí cả hai mặt bằng kỹ thuật đắp khảm sành sứ hoặc tô vẽ những chủ đề như cá hoá rồng, hình hổ, long tàng vân, phượng hoàng xoè cánh và long mã tải đồ (hoặc bát quái) lướt trên hoa văn thuỷ ba, ở phần chính giữa của hai mặt trước (mặt ngoài) và sau (mặt trong).

 3.     Kết cấu kiến trúc chính

         Hậu tẩm

  Là nơi thờ thần Thành Hoàng, là nơi thâm nghiêm nhất trong ngôi đình. Kiến trúc hậu tẩm kết cấu phổ biến nhất là được xây bằng gạch trát vữa vôi, xi măng với kiểu kiến thức vòm cuốn , tạo lâu giả. Nhìn từ bên ngoài trông như hai khối hình hộp chữ nhật, dựng đứng chồng lên nhau.

         Với kiểu kiến trúc này, tường chính là bộ phận chịu lực, vì vậy được xây rất dày. Hậu tẩm bao giờ cũng xây bịt kín ba mặt, chỉ có một cửa nối thông với gian giữa của chính điện, tạo ra một khoảng không gian nhỏ hẹp, đóng kín, tạo cảm giác tham nghiêm, u tịch.

           Chính điện

          Kết cấu kiến trúc của đình làng Đà Nẵng là bộ khung nhà bằng gỗ ba gian hai chái hoặc một gian hai chái. Kết cấu nhà khung gỗ tạo thành từ hệ thống cột cà các bộ phận liên kết cột rất phức tạp. Cách thức liên kết là nhờ vào hệ thống mộng và các con nêm tạo thành bộ khung nhà vững chắc, chống được với gió bão của vùng nhiệt đới. Cột là bộ phận chịu lực chủ yếu gánh lấy toàn bộ sức nặng của ngôi nhà và đè lên hệ thống các chân tảng. Tường nhà chỉ có chức năng ngăn mưa che nắng.

         Theo mặt cắt ngang từ trước ra sau, thông thường có năm cột (hai cột nhất/cột cái, hai cột nhì, và một cột hàng ba ở mái trước), nhưng cũng có kiểu vì có bốn hàng chân cột ( hai cột nhất và hai cột nhì) hoặc có sáu hàng cột. Các cột được liên kết với nhau theo chiều ngang tạo thành một bộ vì.

        Vì truyền thống của đình làng Đà Nẵng là vì kèo chồng, có thể là lưỡng đoạn hoặc tam đoạn, tuỳ ở mỗi đình làng. Với kiểu vì này, hai cột cái được nối với nhau bằng một thanh gỗ ăn xuyên qua than cột, ở vị trí khoảng 1/3 từ trên xuống, gọi là thanh trính. Đầu trính hướng ra trước, đuôi trính ở phía sau, trính được tạo dáng cong mềm mại. Ngoaì thanh trính, các bộ phận liên kết cột còn lại ở một vì đều gọi là kèo. Kèo là những thanh gỗ có dáng khum với những độ dài ngắn khác nhau để liên kết các đầu cột, chạy theo độ xuôi của mái từ trên xuống dưới, đỡ lấy hai mái trước và sau.

      Kèo ở đình làng Đà Nẵng phổ biến bao giờ cũng có bộ phận kèo nóc (hay còn gọi là kèo nhất), gồm hai thanh gỗ ngắn tra đuôi vào đầu hai cột cái, hai đầu kèo vươn cao và bắt chéo nhau tại nóc để đỡ lấy đòn đông. Chỗ bắt chéo gọi là giao nguyên. Đình Đà Nẵng thường mở rộng không gian về phía mái trước, vì vậy, thường chỉ có cột ba tiền, không có cột ba hậu. Ở đó, phần mái trước ngoài hai kèo nóc và kèo nhì như mái sau, liên kết giống vì kèo lưỡng đoạn, còn có thêm kèo ba gối đầu lên đuôi kèo nhì và ăn mộng vào đầu cột nhì, truôi tra vào rãnh đầu cột ba.

     Xuyên là những thanh gỗ thẳng, tiết diện hình chữ nhật dùng để nối các cột cái theo chiều dọc, theo từng đôi một. Theo đó đình một gian có hai cây xuyên trước và sau, hai đầu chúng đâm xuyên qua hai cột cái và được khoá chặt bằng các nêm hệt như liên kết trính. Nếu đình ba gian thì có sáu xuyên.

      Chái đình ở Đà Nẵng thường là chái đơn, tức chỉ có một hàng cột  ngoài cùng, gồm hai cột đấm và hai cột quyết. Cột quyết đứng ở vị trí góc đình, còn cột đắm nằm cùng hàng với cột cái theo chiều dọc, tất cả đều được liên kết với cột cái thông qua các kèo đấm và kèo quyết.

       Đình Đà Nẵng, còn có một bộ phận kiến trúc đặc trưng đó là xà cò trụ đội, giống như kiến trúc nhà dân dụng xứ Quảng. Trụ đội (còn gọi là trụ trốn) là một đoạn gỗ ngắn, hình tròn để đỡ lấy giao nguyên. Trụ trốn đứng vuông góc tại trung điểm của thanh trính, nhưng không ăn mộng trực tiếp vào lưng trính mà thông qua một chân đế bằng gỗ tạo dáng cong cong hình con tôm nên gọi là chân tôm. Phần trên có tấm ván hình cánh dơi toả ra hai bên, đỡ bụng dưới của hai kèo nóc gọi là lá quả.Ở kiến trúc nhà dân dụng toàn bộ các bộ phận này được gọi chung là ấp quả. Xà cò là một thanh gỗ dài được tạo dáng cong nằm phía dưới cây đòn đông, hai đầu ăn mộng vào hai trụ trốn. Xà cò không phải là bộ phận thực hiện chức năng liên kết mà là để khắc các niên đại xây dựng và sữa chữa đình.

         Về bộ mái

         Kiểu mái đình truyền thống thường có bốn mái, gồm hai mái chính trước và sau, hai mái phụ của hai chái ở hai đầu hồi. Trên mái đình làng Đà Nẵng có nhiều hình thức trang trí, vật liệu lợp phổ biến nhất là mái ngói âm dương có trát vữa để giữ cho ngói khỏi tụt, đồng thời tạo thành các xối nước chảy thoát nhanh rất thích ứng với vùng khí hậu có mưa nhiều, tất cả những chỗ gặp nhau giữa các mái đều được đắp cao bằng vôi vữa tạo thành các đường bờ nóc, tức gờ nối hai mái chính chạy dọc theo đòn đông và bờ dải, là những đường gờ nối giữa hai mái chính với hai mái phụ. Ngoài ra, trong rất nhiều ngôi đình có đắp thêm một đường gờ chạy dọc song song với bờ nóc tại vị trí của hàng cột cửa. Qua bộ phận này cùng với những trang trí các hình tượng linh vật ở trên đó, giống kiểu thức nhà “trùng thiềm điệp ốc”, rất phổ biến ở các công trình kiến trúc thời Nguyễn ở Huế .